Thông Tin

Điểm đến du lịch của cả nước và thế giới

Phú Quốc là hòn đảo du lịch lớn nhất Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Từ lâu, Phú Quốc đã nổi tiếng với du khách trong và ngoài nước được mệnh danh là hòn đảo ngọc trên vùng biển Tây Nam của Tổ quốc.

Tiềm năng du lịch dồi dào, phong phú

Diện tích đảo Phú Quốc là 573 km², chiều dài 50 km, nơi rộng nhất ở phía bắc đảo là 25 km, có nhiều bãi biển đẹp trải dài từ phía bắc đến phía nam và mang trên mình 99 ngọn núi chập chùng, với dãy rừng nguyên sinh trùng điệp. Chính vì thế đã tạo cho hòn đảo ngọc này bức tranh “sơn thủy hữu tình”, tiềm năng du lịch dồi dào, phong phú hấp dẫn du khách thập phương. Đặc biệt năm 2006, Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, trong đó có Phú Quốc, là niềm vinh dự tự hào của người dân nơi hòn đảo.

Những ai chưa biết Phú Quốc đều mong ước một lần được đặt chân đến hòn đảo ngọc để thưởng thức những sản phẩm du lịch ở đây như: Tắm biển, tắm suối, leo núi, nghỉ dưỡng, ngắm nhìn thắng cảnh thiên nhiên trong mối giao hòa giữa biển - trời - mây - nước - núi rừng. Sản phẩm du lịch ở đây còn gắn kết với nhiều loại hình tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hóa, lịch sử - cách mạng, đời sống phong tục, tập quán cư dân xứ đảo, những làng chài, làng nghề truyền thống, nghiên cứu hệ sinh thái tự nhiên và đặc biệt là tham quan di tích lịch sử nhà tù Cây Dừa - một biểu tượng đẹp đẽ, sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng rất đỗi hào hùng của đất Nam bộ thành đồng. Những địa danh như: Dương Đông, Dương Tơ, An Thới, Hàm Ninh, bãi Vòng, bãi Khem, bãi Sao, Gành Dầu, Cửa Cạn, suối Tranh, suối Đá Bàn… luôn đọng lại trong lòng du khách khi chia tay Phú Quốc và hẹn ngày trở lại. Phía nam đảo có 12 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, thuộc quần đảo An Thới và phía bắc đảo, với hòn Móng Tay, hòn Đồi Mồi… là những nơi lý tưởng cho các hoạt động du thuyền, câu cá, lặn ngắm san hô, dã ngoại, khám phá đảo hoang.

Những năm qua, tỉnh Kiên Giang đầu tư xây dựng hệ thống nhà hàng, khách sạn khá sang trọng, với khoảng 1.800 phòng đủ tiện nghi sinh hoạt phục vụ du khách tham quan, du lịch Phú Quốc, đồng thời mời gọi và thu hút nhiều dự án đầu tư phát triển du lịch. Đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng phát triển hệ thống giao thông đường bộ kết nối trung tâm huyện đảo Phú Quốc với các điểm du lịch. Hệ thống đường biển, đường hàng không nối đảo Phú Quốc với đất liền được đầu tư nâng cấp đảm bảo vận chuyển hành khách an toàn, thuận lợi. Hiện nay, đường biển với tàu cao tốc xuất phát từ thành phố Rạch Giá và thị xã Hà Tiên với 5 chuyến đi và về mỗi ngày, bình quân 150 - 300 khách/tàu, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân và du khách ra đảo. Đường hàng không có sân bay Phú Quốc tần suất 15 - 20 chuyến/ngày nối Phú Quốc với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Rạch Giá đưa du khách khắp mọi miền đất nước, khách quốc tế đến với đảo rất tiện lợi. Ông Trần Quốc Khanh, Phó trưởng Phòng Kinh tế huyện đảo Phú Quốc cho biết: Bình quân mỗi tháng Phú Quốc đón khoảng 3.000 du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch, trong đó hơn 30% là khách quốc tế đến từ nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Kiên Giang phấn đấu đến năm 2020 phát triển đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, giao thương quốc tế lớn, hiện đại, chất lượng cao, tầm cỡ các quốc gia trong khu vực và thế giới.

Để Phú Quốc thật sự là đảo ngọc

Huyện đảo Phú Quốc vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trở thành đặc khu hành chính - kinh tế trực thuộc Trung ương vào năm 2020. Đây là điều kiện thuận lợi để Phú Quốc tiếp tục phát triển ngành du lịch mũi nhọn chủ lực và thật sự trở thành hòn đảo ngọc của đất nước.

Theo đó, Kiên Giang đã quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đảo Phú Quốc đến năm 2020, với mục tiêu năm 2015 đón từ 1 - 1,2 triệu lượt du khách/năm, trong đó khách quốc tế chiếm 35%, tổng doanh thu 209 triệu USD; năm 2020 đón 2 - 3 triệu lượt du khách/năm, trong đó khách quốc tế chiếm 40%, tổng doanh thu 771 triệu USD.

Phú Quốc khai thác mạnh thị trường khách du lịch nội địa, chú trọng các đô thị lớn trong nước và đồng bằng sông Cửu Long; mở rộng thị trường quốc tế, nhất là tập trung vào các thị trường có khả năng chi trả cao như: Đông Bắc Á, Bắc Mỹ, Tây Âu và ASEAN. Phú Quốc đầu tư phát triển và nâng cấp các sản phẩm du lịch gắn với các loại hình tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan thắng cảnh và các di tích lịch sử - văn hóa, lịch sử - cách mạng, du lịch sinh thái, thể thao, vui chơi giải trí, hội nghị, hội thảo, cắm trại, mua sắm, tham quan làng nghề truyền thống, trang trại, nuôi trồng thủy sản, nghiên cứu sinh thái tự nhiên… Hình thành các tuyến du lịch trên đảo trên cơ sở các sản phẩm du lịch đặc trưng ở từng khu vực phục vụ du khách. Kết nối Phú Quốc với các trung tâm du lịch quốc gia, các nước trong khu vực và quốc tế. Ngoài ra, Phú Quốc quy hoạch xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, trung tâm hội nghị quốc tế kết hợp dịch vụ casino tại bãi Đá Chồng thuộc ấp Đá Chồng, xã Bãi Thơm phía đông bắc của đảo quy mô 135 ha. Sân bay quốc tế Phú Quốc diện tích 1.000 ha đang tập trung đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công sớm hoàn thành đưa vào sử dụng phục vụ khách du lịch.

Tỉnh Kiên Giang triển khai thực hiện các biện pháp mang tính đột phá, hình thức thích hợp, linh hoạt trong huy động nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư phát triển du lịch đảo Phú Quốc. Đầu tư phát triển nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, dịch vụ gắn với tăng cường đầu tư, hình thành và phát triển các sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh cao với các quốc gia trong khu vực và thế giới, thể hiện được thương hiệu du lịch Phú Quốc. Phát triển du lịch đảo Phú Quốc đặt trong mối quan hệ đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, đồng thời bảo vệ tài nguyên môi trường bền vững và thân thiện.

Độc đáo hang suối cá thần Chiềng Ban (Thanh Hóa)

Lâu nay, khách du lịch chỉ biết đến suối cá thần Cẩm Lương và Cẩm Liên nổi tiếng thuộc huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa). Tuy nhiên, ít ai biết tại thôn Chiềng Ban, xã Văn Nho, huyện Bá Thước (Thanh Hóa) từ lâu đã tồn tại một suối cá thần thứ ba đẹp hoang sơ không kém gì hai suối cá thần trên.

Giống như suối cá thần Cẩm Lương, suối cá thần thứ ba này cũng nằm trong một cái hang sâu tự nhiên có nước chảy từ trong lòng núi chảy ra. Theo nhiều người dân sinh sống ở quanh khu vực suối cá thần thì suối cá này đã có từ rất lâu, có thể là trước khi con người đến đây sinh sống. Theo ông Hà Văn Thân, người trông coi, bảo vệ suối cá và cũng là người có nhiều hiểu biết về suối cá cho hay: “Tại hang động thờ thần cá này hai thủ lĩnh trong phong trào Cần Vương ở miền núi Thanh Hóa là Hà Công Bộ và Hà Văn Nho đã bị giặc Pháp bắt, tra tấn và đều bị chém đầu tại động thờ cá thần. Chính vì thế, suối cá thần và động thờ cá thần này có sức ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người dân bản địa”.

Người dân nơi đây cũng không ai dám đánh bắt cá để ăn, hằng ngày vẫn thay phiên nhau mang thức ăn ra suối cho cá thần. Hàng năm cứ sau Tết, dân trong thôn còn tổ chức lễ hội cá thần rất to. Mỗi khi có việc phải đi xa mong thượng lộ bình an hay cầu phúc đỗ đạt, sức khỏe người dân đều làm một cái lễ con con mang đến động thờ cá thần với mong muốn được thần cá giúp đỡ.

Theo cụ Thân, hang cá thần này có chiều sâu khoảng 30m, nước trong hang được bắt nguồn từ cây km số 8 đổ về đây. Du khách muốn chiêm ngưỡng cá thần sẽ gặp khó khăn hơn so với hai suối cá thần ở Cẩm Thủy. Mặc dù ít khi tiếp xúc với người lạ nhưng cá thần ở Chiềng Ban cũng rất dạn người. Mỗi lần cho cá ăn chỉ cần vãi một ít thức ăn  xuống mặt đập là khách tham quan có thể thấy những con cá có thân hình giống y hệt cá thần ở Cẩm Lương bơi ra đớp mồi. Tuy nhiên, ba suối cá thần có phải cùng một loại cá không thì đây vẫn là câu hỏi lớn chưa ai giải đáp được. Chỉ biết, cá thần ở ba suối đều rất giống nhau mặc dù khoảng cách địa lý xa nhau lại không cùng một nguồn nước chảy qua.

Theo lời hướng dẫn của người trông coi hang cá thì phải lên động thắp hương cá sẽ ra đông hơn. Sau khi nén nhang được cắm xuống dù trời mưa nước đập bị đục nhưng cả đàn cá đông đúc từ miệng hang bơi ra liên tục khiến mọi người có mặt đều hết sức ngạc nhiên.

Không ai có thể biết được chính xác số lượng đàn cá thần hiện có trong hang núi này là bao nhiêu con. Theo người dân mô tả trung bình mỗi con nặng từ 7kg – 8kg, con to nhất nặng khoảng 10kg, cá chúa rất to không bao giờ ra khỏi hang, cá thần sống rất ôn hòa với một số loài cá đồng lạc vào hang như cá chép, cá mài mại. Trên mình mỗi con cá đều óng lên màu sắc rất đẹp, miệng và vây cá có màu hồng, thân có màu đen tuyền, phía dưới bụng cá lại được “trang điểm” bằng màu bàng bạc mỗi khi cả đàn cá hàng trăm nghìn con chao mình quẫy đuôi mặt nước lại sóng sánh, lấp lánh nhìn xa như có ánh bạc phản chiếu.

Suối cá thần Chiềng Ban thực sự là một nét độc đáo mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho vùng đất Bá Thước – Thanh Hóa. Nơi đây, chứa đựng một tiềm năng du lịch lớn nếu kết hợp với hai suối cá ở huyện Cẩm Thủy

Bức tranh thiên nhiên hấp dẫn du khách

Nà Hang lâu nay vẫn được coi như một vùng đất cổ, nơi mà mỗi con sông, con suối, mỗi cánh rừng, ngọn núi đều được gắn liền với những truyền thuyết đầy hấp dẫn. Nơi đây có nhiều cảnh đẹp nên thơ, sơn thủy hữu tình được kiến tạo bởi hai con sông lớn là sông Gâm và sông Năng cùng dãy núi Pác Tạ hùng vĩ với 99 ngọn núi được ví là “Hạ Long cạn giữa đại ngàn”.

Kể từ khi được tích nước, hồ thủy điện Tuyên Quang trở thành một vùng hồ rộng tới trên 8.000 ha với nhiều cảnh quan thiên nhiên làm say đắm lòng người.

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên nhằm mục đích nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hóa hiện hữu. Hiện nay, Nà Hang đang hội đủ những yếu tố làm nên một quần thể du lịch sinh thái mang tầm cỡ quốc gia mà ít nơi có được. Đây là lợi thế để phát triển loại hình du lịch văn hóa dân tộc dân gian hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và du lịch hồ thủy điện Tuyên Quang.

Trước hết nói về rừng, Tuyên Quang là một trong 3 tỉnh có mật độ rừng che phủ lớn nhất cả nước thì riêng với Nà Hang là huyện rừng có mật độ che phủ cao nhất toàn tỉnh, chiếm 71% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, có giá trị về kinh tế, có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái. Tại đây có Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung với diện tích bảo tồn được phê duyệt là 42.000 ha. Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung được chia cắt bởi sông Năng và sông Gâm. Hệ thống suối của hai con sông này tạo thành hệ thủy vực quan trọng của khu bảo tồn. Rừng ở đây phong phú về hệ động thực vật quý hiếm (gồm 40 loài thú, 70 loài chim, 20 loài bò sát và 17 loài thực vật bậc cao), tiêu biểu là các loài động vật nằm trong sách đỏ như: Voọc mũi hếch, voọc đen má trắng, gấu ngựa…, hay những cây gỗ đinh, nghiến, trai... quý hiếm hàng nghìn năm tuổi. Khu bảo tồn có vai trò đặc biệt quan trọng là bảo vệ nguồn nước cho hồ thủy điện Tuyên Quang, điều tiết lũ ở vùng hạ lưu và chắc chắn đây chính là điểm du lịch sinh thái, mạo hiểm vô cùng hấp dẫn.


Đến Nà Hang chắc chắn sẽ không ai bỏ lỡ cơ hội đi du thuyền trên hồ thủy điện Tuyên Quang, để được đắm mình với thiên nhiên mênh mông sông nước, trùng điệp núi rừng, được nghe những câu chuyện kể về sự tích gắn với từng địa danh nơi đây. Trên đường đi vãn cảnh lòng hồ, quý khách sẽ được ghé thăm thác Pắc Ban (thác Mơ) kỳ ảo, thơ mộng được xếp hạng là thắng cảnh Quốc gia. Theo những người dân nơi đây kể lại, truyền thuyết về thác Mơ là câu chuyện đầy cảm động về vợ chồng nàng Mơ sinh sống dưới chân núi Pắc Ban. Một ngày, người chồng đi hái thuốc trong rừng mà mãi không về. Nàng Mơ băng rừng đi tìm chồng nhiều ngày rồi lạc trong rừng. Một ngày kia, nàng hóa thành một dòng thác trắng xóa. Dọc đường, quý khách sẽ được tận mắt ngắm nhìn Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung, ghé thăm thác Khuẩy Súng, Khuẩy Nhi, Khuẩy Me, thăm hang Phia Vài (hang người Việt cổ, nơi phát hiện ra hai di tích mộ táng và một di tích bếp lửa thuộc thời đồ đá khoảng 10.000 năm)... Những cánh rừng nguyên sinh có cây nghiến nghìn năm tuổi và loài voọc mũi hếch được ghi trong sách đỏ thế giới.

Phóng xa tầm mắt quý khách sẽ thấy núi Pắc Tạ, ngọn núi cao nhất của huyện Hà Hang có hình chú voi đang đứng bên nậm rượu. Xa chút nữa là núi Xa Tạ hay còn gọi là núi Côn Lôn. Câu chuyện truyền thuyết về núi Pắc Tạ kể về chú voi nghiện rượu có công đánh giặc và được vua phong là Voi quận công hóa đá. Chân núi Pắc Tạ có đền thờ vị thiếp của Tướng quân Trần Nhật Duật. Bà theo chồng kinh lý vùng sông Gâm và sông Năng và bị tử nạn, đã được một người họ Ma vớt, táng ngay chân núi. Vua cho dựng đền thờ ngay tại nơi chôn cất và giao cho người họ Ma trông coi. Người dân nơi đây nói rằng, ngôi đền này rất thiêng và du khách khắp nơi thường đến nơi đây cầu nguyện. Cũng trên đường du ngoạn bằng thuyền, du khách sẽ ghé thăm và thắp hương ngôi đền Pắc Vãng là nơi thờ Quan đế đại thần và thờ Mẫu.

Đi dọc sông từ Thượng Lâm, giữa cảnh sông nước núi non hùng vĩ, là sừng sững chiếc “cọc Vài” đá (tiếng Tày nghĩa là cọc buộc trâu) gắn với sự tích chàng Tài Ngào. Đi tiếp nữa là gặp thác Nậm Mè (nghĩa là suối mẹ). Từ đoạn hợp lưu giữa sông Gâm với sông Năng là một vùng sông nước, núi non hùng vĩ với những bóng cây cổ thụ của những cánh rừng nguyên sinh đổ xuống mặt nước. Bên bờ trái đoạn chia cắt thị trấn Nà Hang với xã Trùng Khánh (cũ) có vách đá tên gọi là “Nàng Tiên - Chú Khách”. Du khách có thể hình dung trên vách đá có hình ảnh Nàng Tiên - Chú Khách đang chơi vơi giữa chốn bồng lai tiên cảnh và hạ giới. Vách đá này cũng gắn liền truyền thuyết rất hay và cảm động. Đến đây quý khách còn được nghe về sự tích hoa Phạc Phiền, một loài hoa cỏ tiên có hương thơm ngào ngạt có thể chữa được mọi ưu phiền làm cho người khỏi bệnh. Tiếp đến du khách sẽ gặp những thác nước như Tin Tát, Đén Luông, Đén Lang đổ như mái tóc của người thiếu nữ buông xuống rừng cây đại ngàn, tạo thành bức tranh tuyệt mỹ.

Tạo hóa nơi đây báo hiệu cho người dân một quy luật rất nghiêm ngặt khi đi thuyền mảng trên sông vào mùa lũ. Đó là trên vách đá có những lỗ nhỏ gọi là Đăng Vài (có nghĩa là mũi trâu). Cứ vào mùa lũ, bà con có kinh nghiệm hễ nước sông thấp hơn mũi trâu thì có thể qua được còn nếu ngập ngang mũi trâu phát ra tiếng nước réo (trâu thở) thì rất nguy hiểm, thuyền bè không qua được. Đoạn sông Năng qua xã Đà Vị người ta không gọi là sông Năng mà gọi là sông Ngang, đến thượng nguồn sông Gâm có Núi Đổ. Sông Ngang, Núi Đổ nghe như có vẻ thiên nhiên thật hung dữ thách thức sự chinh phục của con người. Nhưng hết mùa lũ sông lại hiền hòa như bàn tay người mẹ bồi đắp phù sa cho những cánh đồng tươi tốt.

Nà Hang được biết đến bởi sức cuốn hút kỳ lạ của một vùng văn hóa đa dân tộc (có 12 dân tộc anh em) như: Tày, Dao, Mông... Các dân tộc ở Nà Hang đã tạo nên một kho tàng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc, một vùng âm nhạc dân gian độc đáo với những làn điệu then, sli, lượn... cùng với tiếng đàn tính, tiếng kèn làm say đắm lòng người. Nà Hang ngoài phong cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, vùng văn hóa đa dạng, còn hấp dẫn du khách bởi những món ăn mang đậm bản sắc dân tộc, các món cá đặc sản của vùng hồ. Đặc biệt, Nà Hang có rượu ngô men lá ngon nổi tiếng. Thứ rượu này uống bao nhiêu cũng chỉ lâng lâng mà không say xỉn. Để làm được thứ rượu thơm ngon này, phải qua một quy trình rất công phu. Nếu ai đã từng được thưởng thức thứ rượu thơm ngon nơi đây, có lẽ sẽ nhớ mãi cái hương vị đậm đà khó quên này. Nhằm phát huy giá trị văn hóa và tạo sự hấp dẫn thu hút du khách, Ban Quản lý Khu du lịch sinh thái Nà Hang đang phối hợp với chính quyền các địa phương triển khai xây dựng các điểm du lịch làng văn hóa Nà Tông ở xã Thượng Lâm, bản Phiêng Bung ở xã Năng Khả, bản Lục ở xã Đà Vị...

Trong những năm gần đây, Nà Hang đã và đang trở thành một trung tâm buôn bán với nhiều hoạt động du lịch sinh thái nhộn nhịp. Hàng năm, huyện tiếp đón hàng vạn du khách trong và ngoài nước, số lượng khách đang ngày một gia tăng. Tỉnh đã đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, Nà Hang sẽ là một thị xã sầm uất và phát triển mọi mặt. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện xác định du lịch sinh thái là ngành kinh tế mũi nhọn của Nà Hang. Những năm gần đây, nguồn thu từ du lịch đóng góp vào kinh tế của huyện ngày càng tăng và chắc chắn những năm tới đây, du lịch sẽ có đóng góp xứng đáng hơn nữa cho việc phát triển kinh tế - xã hội của Nà Hang.

Anh Lê Thanh Sơn, Giám đốc Ban quản lý Khu du lịch sinh thái Nà Hang cho biết, tới đây, Khu du lịch sinh thái Nà Hang sẽ hình thành một số phân khu chức năng như Khu lâm viên Phiêng Bung (có sân bay mini, trường đua ngựa, sân gôn, bãi cắm trại...); khu lâm thủy Cọc Vài (gồm khu biệt thự, đảo nuôi thú, khu thể thao mạo hiểm, khu câu cá, bến cảng); khu thể thao trên nước; khu làng văn hóa lịch sử... Tỉnh và huyện đang kêu gọi đầu tư để xây dựng Nà Hang thành một trung tâm du lịch sinh thái hấp dẫn.


Bình Thuận: Bàu Trắng lung linh sắc nắng

Thật khó tưởng tượng giữa một vùng đất khắc nghiệt về thời tiết, quanh năm khô hạn, mưa ít nắng nhiều phơi trần những đồi cát chập chùng chồm mình ra biển lại có một hồ nước rộng mênh mông đã có tự bao đời. Bàu Trắng thuộc thôn Bình Nhơn ngày xưa và nay nằm ở xã Hòa Thắng huyện Bắc Bình, cách TP. Phan Thiết khoảng 65 cây số nếu đi quốc lộ 1A đến ngã ba Lương Sơn rẽ vào hoặc từ khu du lịch Hòn Rơm - Mũi Né thì dưới 12 cây số.

Bàu Trắng còn gọi là Bạch Hồ, Bàu Sen có nguồn nước ngọt tự nhiên được bao quanh bởi những đồi cát trắng hoang sơ. Có lẽ Bàu Trắng trở thành địa danh từ bài thơ “Bạch hồ nhàn hành” của Nguyễn Thông cảm tác khi đến đây vào năm 1867, và cách gọi cũng xuất phát từ địa hình tự nhiên. Dù gọi là bàu nhưng thực sự đó là một hồ nước lớn có chiều dài như một con sông gần 5 km và khoảng cách giữa hai bờ trên 500 m. Có nhiều tư liệu cho rằng Bàu Trắng rộng 70 ha, độ sâu có nơi 19 thước hoặc đường chu vi 12 dặm nhưng có thể xem đó là cách ước lượng trong đo đạc thời xưa. Bàu được ngăn đôi bởi một dải đất do người xưa đắp lên, nối với hai bờ nơi hẹp nhất để đi lại. Rồi từ đó có tên gọi Bàu Ông và Bàu Bà. Cũng có người gọi Bàu Ông là Bạch Hồ và Bàu Sen là Bàu Bà. Ngay đường vào là Bàu Ông và tiếp đến là Bàu Bà mọc kín sen có diện tích lớn gấp nhiều lần với Bàu Ông. Đặc biệt mực nước trong bàu quanh năm, dù mùa nắng hay mưa vẫn không thay đổi. Với không gian thoáng đảng dưới bầu trời bao la càng làm cho Bàu Trắng lênh láng màu nước xanh trong, soi bóng mây trời lảng đảng càng thêm quyến rũ. Mặt hồ nâng niu từng mảng lá sen xanh mướt trổ đầy nhụy hoa rạng rỡ ngát hương đã vẽ nên bức tranh thủy mặc hoành tráng trác tuyệt. Bên bờ hồ, chập chùng đồi cát trắng còn nhiều rặng dương cao vi vút xen lẫn những lùm cây xanh hoang dại và ngôi cổ miếu thờ Thiên Y thánh mẫu theo truyền thuyết của người Chăm. Với diện tích hồ rộng lớn tích tụ mạch nước tinh khiết ngọt ngào từ các đồi cát bao quanh càng tạo ra sự bí ẩn ly kỳ. Dưới hồ có nhiều loài cá nước ngọt như lốc, trê, rô, trắm cỏ… Người dân ở đây kể lại mấy mươi năm trước còn bắt được cả cá sấu và loáng thoáng cọp, beo... Có vẻ huyền bí hơn, đáy hồ dày đặc nhiều lớp rong lạ có thể quấn chặt chân người và càng có vẻ ma quái hơn qua truyền khẩu về nỗi ám ảnh con “thuồng luồng” dài chục thước đã cướp mất nhiều mạng người xấu số được ký bán cho thần linh.

Cạnh Bàu Trắng, có một địa danh cũng không kém phần độc đáo là Hòn Hồng nhô ra sát biển, được phủ lên  màu cát hồng rừng rực dưới ánh mặt trời. Nhưng có sức hấp dẫn hơn là đồi Trinh Nữ. Đúng như tên gọi dưới cái nhìn của người có tâm hồn lãng mạn, bởi ngọn đồi cát này dù đứng ở góc độ nào, nhất là dưới ánh nắng ban mai hoặc lúc bóng ngả về chiều, có thể đó là một dáng nằm nghiêng của người con gái trong tư thế ẻo lả đang duỗi đôi chân trần, hoặc lúc tung xỏa mái tóc hồn nhiên vắt lên đồi ngực xuân thì…Gió biển ở đây không ngừng nghỉ, từng chặp thổi vào đã thay hình đổi dạng đồi cát bay Trinh Nữ với những gam màu, những đường nét huyền ảo lung linh. Người dân địa phương kể lại những ngày kháng chiến gian khổ, Bàu Trắng nằm trong phần đất chiến khu Lê Hồng Phong, lúc ấy bạt ngàn cánh rừng lá thấp, lùm bụi chập chùng với biết bao huyền thoại anh hùng, mưu trí đánh giặc và chống chọi cái nắng chát chúa, cát bỏng rang bên cạnh hồ nước hiền hòa này.

Ngày nay, khách xa gần đến đây đắm mình giữa cái không gian ngập đầy màu nắng hanh hao, đồi cát trắng chói chang như tương phản với hồ nước mênh mông, xanh trong nền trời vẫn cảm nhận được sự tĩnh lặng, êm đềm đến lạ lùng của cảnh quan thiên nhiên Bàu Trắng.

Du lịch mạo hiểm lên thác Tà Gụ, Khánh Hòa

Tà Gụ, nằm ở vùng núi rừng tiếp giáp với cao nguyên Lâm Đồng, là một ngọn thác đẹp và hoang sơ chưa được khai thác du lịch ở tỉnh Khánh Hòa. Thời tiết ở đây mát lạnh. Thú vị nhất là con đường đến thác, du khách được trải nghiệm những phút mạo hiểm. Nhiều đoạn, khách phải bám vào rễ cây mà đi...

Thác Tà Gụ nằm ở xã Hiệp Sơn (huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa), cách biển khoảng 60-70 cây số. Thác thuộc tỉnh duyên hải miền Trung nhưng thời tiết rất mát mẻ bởi nằm ở độ cao khoảng 1.300 mét so với mực nước biển. Nếu từ hướng Cam Ranh lên, du khách đi qua những cung đường quanh co, hiểm trở dọc triền núi, băng từ núi này qua núi khác. Dừng xe ở vị trí cách thác khoảng 300 mét du khách bắt đầu đi bộ, vào cuộc khám phá thú vị.

Đường vào thác ngắn nhưng không đơn giản. Vừa xuống xe, du khách đã phải kề cận bờ vực sâu gần 10 mét. Khách quay lưng lại, bám vào rễ cây, hốc đá để xuống phía dưới. Rồi tiếp tục leo lên đá khoảng 200 mét để đến bờ suối. Tại đây, có một hồ nước trong vắt. Nước từ thác đổ xuống bị các khối đá lớn chắn lại tạo thành hồ. Nước chảy lâu ngày, hồ trở nên sâu. Khách phải nhảy qua những tảng đá lớn, nhỏ vượt suối. Đường khá trơn trợt nên điện thoại di động, ba lô cần được gói kỹ lưỡng để tránh bị thấm nước khi... “chụp ếch”. Qua được bờ bên kia, men dọc theo con suối là những tán cây rừng mát rượi. Trước khi đến thác, du khách còn gặp một vách đá dựng đứng, cao gần 10 mét. Lại tiếp tục bám vào vách đá, lần mò tuột xuống phía dưới. Đây là vị trí hiểm trở, nguy hiểm. Tới được mép nước, khách còn phải tiếp tục “phi thân” từ tảng đá này sang tảng đá kia để đến gần thác hơn. Con đường nguy hiểm nhưng phía trước là dòng thác lượt là thu hút.

Sau khi chinh phục đoạn đường ngắn chỉ vài trăm mét đầy nguy hiểm này, khách như tan biến những mệt mỏi bởi thác Tà Gụ đẹp quá. Chân thác là một cái hồ rộng lớn được bao quanh bởi vách đá thẳng đứng cao 30-40 mét. Từ đỉnh vách đá, một dòng nước trắng xóa đổ thẳng xuống hồ bên dưới ầm ầm suốt cả ngày đêm. Mặt hồ luôn sôi sục, bọt tung trắng xóa, phản chiếu ánh sáng tạo nên chiếc cầu vồng bên trên mặt hồ. Theo lời kể truyền miệng: ngày xưa, thiên nhiên nơi đây xinh đẹp. Hàng này, có nàng tiên từ trời cao giáng xuống để thưởng lãm cảnh vật, vui chơi ở chốn trần gian. Một ngày nọ, vì mãi chơi quên giờ về. Vì thế, khi trở về trời thì cửa đã khép và buộc nàng phải ở lại trần gian mãi mãi. Nàng sống trong sự đau buồn và nhung nhớ cung tiên. Rồi nàng ngã quỵ bên vách đá cao. Mái tóc nàng xỏa xuống bờ đá hóa thành dóc suối lượt là đổ xuống từ độ cao 30-40 mét. Từ đó, thác Tà Gụ còn có tên là thác Tiên. Cách lý giải này được mọi người chấp nhận bởi vì họ không diễn tả được bằng lời để nhắc đến dòng thác này, đành mượn câu chuyện dân gian để nói hết vẻ đẹp quyến rũ, thơ mộng của thác.

Nước từ lòng đất tuôn trào qua những ghềnh đá nên lạnh ngắt. Xung quanh khu vực thác đổ xuống, bóng cây gần như bao phủ. Bên dưới là những khối đá to bao bọc nên nước lại càng lạnh hơn. Chỉ ngâm mình chừng vài phút ở hồ nước dưới chân thác, khách đã lạnh run. Nhiều người phải đến những khe nước nhỏ hơn hoặc ra những chỗ có ánh nắng rọi xuống để giảm độ lạnh của nước. Ở đây, chưa được khai thác du lịch, thiên nhiên còn mang nét hoang sơ vốn có. Dịch vụ, quán xá đều không có nên khi tham quan thác khách phải chuẩn bị những thứ cần thiết, thức ăn, uống. Vào cuối tuần, ngày lễ, rất nhiều người đến đây mang theo thức ăn, đồ uống và vui chơi cả ngày. Nếu có tài săn bắt, khách có thể dùng lưới, câu để bắt cá ở thác này. Cá suối rất ngon và ngọt bởi chúng sống ở môi trường nước chảy, không bị nhiễm bẩn và ăn thức ăn thiên nhiên.

Ngành du lịch địa phương chuẩn bị khai thác thác Tà Gụ thành điểm du lịch sinh thái. Ở miền biển vẫn có một cao nguyên xanh, tạo sự phong phú cho du lịch địa phương, hấp dẫn du khách. Bên cạnh Hòn Bà, khu vực thác Tà Gụ đang trở thành một trong những “Đà Lạt của biển Nha Trang”. Đường đến Tà Gụ mang đặc trưng của vùng cao nguyên, có thể gọi đây là con đường nối từ rừng đến biển. Rời Tà Gụ, khách đi trên con đường đèo khúc khuỷu như hình chữ Z. Một bên là vách núi. Một bên là vực thẳm. Phía xa xa là những ngọn núi chất chồng, nối tiếp nhau. Và xa hơn nữa là một màu xanh biên biếc của biển trên vịnh Cam Ranh.

Một chút mạo hiểm với thác Tà Gụ, khách không chỉ trải nghiệm với chuyến du lịch khám phá hấp dẫn mà còn chiêm ngưỡng được thiên nhiên xinh đẹp, nơi giao thoa giữa rừng và biển, giữa cao nguyên và miền duyên hải./.

Nắng vừa lên, đi tìm “sữa chua xắn miếng”


Nắng chớm lên sau những ngày mưa tầm tã, cảm giác oi bức, chói chang của ngày hè nắng gắt lại hiện về. Có món gì ngon cho những ngày sau mưa đầy oi ả? “Sữa chua xắn miếng” nghe lạ mà quen đối với những “tín đồ sành ăn” của đất Hà Thành.

Cùng trải nghiệm một cảm giác thú vị mới qua cách thưởng thức đặc biệt của món sữa chua. Không phải là một cốc đầy sữa chua dầm, tan đều cùng đá có thể dùng uống hút mà ở đây là những miếng sữa chua xắn dẻo phủ trên là một lớp cacao. Khi thưởng thức ta sẽ cảm nhận được vị sữa chua cùng bột cacao ngọt lịm thơm thơm tan dần trên đầu lưỡi.

Một cốc sữa chua xắn miếng được tạo hình một cách rất hợp lý, lót dưới cùng đáy là 1 lớp đá nhỏ, tiếp đến là những miếng sữa chua xắn dẻo thơm, bao phủ trên cùng là lớp bột cacao ngầy ngậy. Để tỉ lệ bột cacao và sữa chua không quá chênh lệch Cứ vài ba miếng sữa chua lại được lót thêm một lớp mỏng bột cacao. Điều hấp dẫn ở món ăn này không chỉ ở hương vị đặc biệt và cách thưởng thức đặc biệt mà còn ở cách phối màu bắt mắt, một cốc sữa chua xắn miếng có ba màu rõ ràng trên cùng là màu nâu của cacao, ở giữa là màu vàng phớt của sữa chua và dưới cùng là lớp pha lê trắng muốt của đá. Mới nhìn thôi đã cho người thưởng thức một cảm giác rất ngon miệng.

Thưởng thức món ăn này thực khách có thể ăn theo hai cách, một là dầm ra hai là dùng thìa xắn từng miếng. Cách thưởng thức thứ hai là ngon và chuẩn mực nhất cho sự đặc biệt của món ăn này. Khác biệt với các món sữa chua biến tấu, món ăn này khi thưởng thức, chủ quán cho đá xuống đáy với ngụ ý rất rõ ràng “hãy thưởng thức sự hương vị đặc biệt của sữa chua thơm dẻo, chứ không phải cắm cúi vào dầm be bét nó”, lớp đá đó chỉ đơn gian là để bảo quản cho sữa chua lâu tan hơn và tạo cảm giác mát cho người thưởng thức. 

Công thức làm món ăn này nhìn thì đơn giản nhưng sự kỳ công của nó, nằm cả trong quá trình tạo ra miếng sữa chua thơm dẻo, mềm ngon kia. Là một quán café vỉa hè trên phố Hàng Nón nhưng món sữa chua xắn miếng đặc biệt này đã tạo được nét riêng và sức lôi cuốn của quán đối với thực khách Hà Thành. Khách đến đây mỗi ngày một đông, từ giới trẻ cho đến cả những bậc “trưởng bối”, thế hệ nào cũng bị hương vị hấp dẫn của sữa chua xắn miếng cuốn hút.

Gia Nguyễn
Nguồn Amthuc365.vn

Mát lành, tinh khiết vị sắn dây ngày hè


Vào tháng 11 âm lịch, khi những chiếc lá xanh trên giàn sắn dây trước sân nhà bắt đầu có những đốm trắng và ngả màu, là đến mùa thu hoạch sắn dây ở quê tôi.

Sắn dây rất dễ trồng và không tốn công chăm sóc, nên hầu như nhà nào ở quê tôi cũng trồng một vài giàn sắn dây trong vườn. Sắn dây thường được trồng vào cuối tháng chạp. Người ta đào những cái hố nhỏ, bón lót một ít phân chuồng hay rơm rạ mục rồi đặt dây giống xuống và lấp đất lại. Những mầm bé bé xinh xinh nảy ra từ thân dây mẹ, gặp những cơn mưa xuân vươn mình vụt lớn. Một cái giàn được làm bên trên để dây sắn leo lên.

Chẳng bao lâu sau là đã có một giàn sắn dây rợp bóng mát. Củ sắn dây bám mình vào đất mẹ, chắt lọc những gì tinh túy nhất của lòng đất để gần một năm sau cống hiến cho đời một sản vật trắng trong, tinh khiết.

Khi thu hoạch, mọi người phải dùng cuốc đào thật khéo léo để tránh trầy xước, sẽ làm mất chất lượng tinh bột của củ sắn. Sắn dây sau khi thu hoạch được mang ra chợ bán. Chợ quê những ngày này tràn ngập củ sắn dây. Những củ sắn dây căng tròn trông thật bắt mắt. Sắn dây rẻ tiền và dễ chế biến nên rất được người dân quê ưa chuộng.

Sắn dây thái sợi mỏng xào thịt bò hay thịt lợn thăn rất ngon. Nhưng với người dân quê tôi, chỉ cần phi thơm dầu phụng với nén rồi cho sắn dây vào xào, thêm chút muối, mì chính, một ít lá nén và tiêu bột là đã có ngay một đĩa sắn dây nóng thơm ngào ngạt. Món này ăn kèm với cơm nóng rất ngon nhưng ngon nhất vẫn là dùng kèm với bánh tráng mè nướng. Vị ngọt của sắn dây, mùi thơm của dầu phụng, lá nén cùng vị giòn tan của bánh tráng và béo của mè khiến đĩa sắn dây nhanh chóng vơi đi trong sự tiếc nuối của người dùng.

Sắn dây còn có thể dùng để ăn sống như các loại trái cây. Chỉ cần gọt lớp vỏ ngoài rồi rửa sạch, cắt lát (có thể cho vào ngăn lạnh một lúc) là có ngay một món ăn mát lành. Cắn một miếng sắn dây giòn giòn trong miệng, cảm nhận hương vị ngọt ngào và mát lành của đất mẹ nhẹ lan trên đầu lưỡi, mới hiểu vì sao nhiều người lại mê ăn sắn dây sống đến thế.

Ngoài ra người quê tôi còn chế biến bột sắn dây để dành dùng quanh năm. Người ta lựa những củ sắn dây to, căng tròn (có nhiều tinh bột), gọt bỏ vỏ, rửa sạch rồi mài củ sắn dây trong thau nước. Vào mùa thu hoạch sắn dây, hầu như nhà nào cũng thức thật khuya để mài bột sắn dây. Cả nhà vừa làm vừa trò chuyện rôm rả quên cả đêm đã khuya tự lúc nào. Bột sắn dây được lọc chất xơ rồi ngâm qua nhiều nước nhằm loại bỏ nhựa sắn giúp bột trở nên trắng tinh. Người ta phơi bột trên những cái nong tre cho đến khi thật khô rồi bảo quản cẩn thận để dùng quanh năm.
Khi nấu chè, chỉ cần cho một ít bột sắn dây vào tạo độ sánh thay cho bột bắp hay bột năng là có ngay một nồi chè thoang thoảng hương thơm sắn dây rất lạ. Hay lấy một ít bột sắn dây hòa với nước, cho thêm một ít đường rồi bắc lên bếp lửa khuấy đều cho đến khi bột chín và đặc lại như hồ là có ngay một món ngon thanh tao mà bổ dưỡng những lúc đói lòng.
Những trưa hè nóng nực, ly nước sắn dây ướp hương hoa nhài mát lành là loại đồ uống giải nhiệt hiệu quả. Nhấp từng ngụm nước mát, cảm nhận hương vị thanh thanh, ngọt ngào, tinh khiết, thơm ngát hương hoa khiến bao nhiêu mệt mỏi trong người bỗng phút chốc tan biến.
Ngày nay có rất nhiều loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân, nhưng cây sắn dây vẫn gắn bó với người dân quê tôi qua bao đời nay. Có lẽ chính sự bình dị, thân thiện, ngọt ngào, mát lành và tinh khiết của củ sắn dây đã khiến cho người dân quê tôi vẫn mãi chung thủy với loại cây này.
(Theo LĐ)